Trang chủ

Bưu chính viễn thông

Nghị định số 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ về quản lý thuê bao di động trả trước
15/05/2017 | 10:37

Ngày 24/4/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 15 của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông và Điều 30 của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện.

 

Nghị định số 49/2017/NĐ-CP được ban hành với mục đích sửa đổi, bổ sung một số quy định về quản lý thuê bao di động nhằm khắc phục các kẽ hở pháp lý, tăng tính hiệu quả và khả thi trong công tác quản lý thông tin thuê bao di động trả trước. Theo đó, kể từ ngày 24/4/2017 khi Nghị định số 49/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành Thông tư số 04/2012/TT-BTTTT ngày 13/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về quản lý thuê bao di động trả trước sẽ hết hiệu lực.

Một số điểm mới của Nghị định số 49/2017/NĐ-CP như sau:

1. Thuê bao di động trả trước phải giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung như thuê bao di động trả sau. Cụ thể:

Đối với cá nhân: Với 3 số thuê bao đầu tiên, cá nhân không phải giao kết hợp đồng theo mẫu, chỉ cần xuất trình giấy tờ và ký vào bản xác nhận thông tin thuê bao; Tuy nhiên, từ số thuê bao thứ tư trở đi, cá nhân phải thực hiện giao kết hợp đồng theo mẫu với doanh nghiệp viễn thông di động. (Như vậy, Nghị định số 49/2017/NĐ-CP không giới hạn về số lượng số thuê bao cá nhân được phép đăng ký so với Thông tư số 04/2012/TT-BTTT giới hạn mỗi cá nhân chỉ được đăng ký tối đa ba (03) số thuê bao). 

Đối với tổ chức: Phải giao kết hợp đồng theo mẫu, xuất trình giấy chứng nhận pháp nhân, danh sách các cá nhân thuộc tổ chức được phép sử dụng dịch vụ viễn thông và bản chính giấy tờ tùy thân của từng cá nhân. (Như vậy, Nghị định số 49/2017/NĐ-CP không giới hạn về số lượng số thuê bao tổ chức được đăng ký so với Thông tư số 04/2012/TT-BTTT giới hạn tổ chức chỉ được đăng ký tối đa một trăm (100) số thuê bao. Ngoài ra, để chặt chẽ hơn tránh trường hợp các doanh nghiệp đăng ký khống thuê bao thì Nghị định số 49/2017/NĐ-CP bổ sung nội dung” khi đăng ký, tổ chức phải giao kết hợp đồng và xuất trình bản chính giấy tờ tùy thân của từng cá nhân”.

2. Địa điểm để thực hiện giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Doanh nghiệp viễn thông chỉ được thực hiện giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung về tiếp nhận, đăng ký thông tin thuê bao, bán SIM thuê bao di động tại 03 địa điểm sau:

Thứ nhất, tại các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông có địa chỉ xác định do doanh nghiệp viễn thông thiết lập.

Thứ hai, tại các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông lưu động do doanh nghiệp viễn thông thiết lập.

Thứ ba, tại điểm cung cấp dịch vụ viễn thông có địa chỉ xác định do doanh nghiệp khác thiết lập, được doanh nghiệp viễn thông ký hợp đồng ủy quyền.

(Như vậy, việc tiếp nhận, đăng ký thông tin thuê bao, bán SIM thuê bao di động sẽ không được thực hiện tại các hộ kinh doanh có ký hợp đồng ủy quyền với doanh nghiệp viễn thông theo như Thông tư 04/2012/TT-BTTT đã quy định).

3. Quy định rõ về trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông:

- Hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hoạt động của các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông; về tính chính xác, đầy đủ của thông tin thuê bao.

- Đối với thuê bao di động có thông tin thuê bao không đúng quy định, phải thông báo liên tục trong ít nhất 5 ngày để cá nhân, tổ chức thực hiện lại việc giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Trường hợp cá nhân, tổ chức không thực hiện, tạm dừng cung cấp dịch vụ một chiều sau 15 ngày kể từ ngày điều tiên gửi thông báo, tạm dừng cung cấp dịch vụ hai chiều sau 15 ngày tiếp theo và tiến hành thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ sau 30 ngày kể từ ngày tạm dừng cung cấp dịch vụ hai chiều. Sau thời gian trên số thuê bao sẽ bị thu hồi về kho só để tái sử dụng.

          4. Quy định về thời gian chuyển tiếp

- Trong thời gian 3 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, các doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm ký hợp đồng với các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông ủy quyền; rà soát, thông báo, thanh lý hợp đồng, thu hồi toàn bộ các SIM thuê bao di động đã được doanh nghiệp phân phối cho các đại lý. Sau thời gian này, các điểm đăng ký thông tin thuê bao, đại lý phân phối SIM thuê bao đang hoạt động nếu không được doanh nghiệp viễn thông ký hợp đồng ủy quyền giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo quy định tại Nghị định này phải ngừng hoạt động tiếp nhận, đăng ký thông tin thuê bao, bán SIM.

- Trong vòng 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, doanh nghiệp viễn thông di động có trách nhiệm rà soát, hướng dẫn, yêu cầu các thuê bao di động trả trước đang sử dụng dịch vụ của mình mà thông tin thuê bao chưa tuân thủ theo đúng quy định tại Nghị định này thực hiện lại việc giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo quy định tại Nghị định này. Sau 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, doanh nghiệp phải đảm bảo toàn bộ thông tin thuê bao di động được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp là đầy đủ, chính xác.

          5. Bổ sung và tăng mức xử phạt vi phạm

Nghị định số 49/2017/NĐ-CP đưa ra các mức xử phạt nặng cho các hành vi vi phạm với từng chủ thể (doanh nghiệp viễn thông di động, điểm cung cấp dịch vụ viễn thông di động, chủ thuê bao viễn thông di động), đặc biệt là hành vi cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân có thông tin thuê bao không đúng quy định ngoài phạt doanh nghiệp viễn thông di động, còn có thể phạt cả Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp viễn thông di động (mức phạt lên tới 100.000.000 đồng).

Một số hình phạt đáng chú ý bao gồm:

- Phạt tiền doanh nghiệp viễn thông di động lên đến 1.000.000 đồng trên mỗi thuê bao đối với hành vi cung cấp dịch vụ cho thuê bao có thông tin thuê bao không đúng quy định.

- Phạt tiền doanh nghiệp viễn thông di động lên đến 30.000.000 đồng với mỗi điểm cung cấp dịch vụ viễn thông không tuân thủ đúng quy định khi thực hiện giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

- Phạt tiền lên đến 40.000.000 đồng khi bán, lưu thông trên thị trường SIM thuê bao đã được  nhập sẵn thông tin thuê bao, kích hoạt sẵn dịch vụ; bán SIM thuê bao di động khi không được doanh nghiệp viễn thông di động ký hợp đồng ủy quyền.

- Phạt tiền lên đến 100.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp hoặc sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin để giả mạo thông tin, ảnh chụp giấy tờ của cá nhân, tổ chức, ảnh chụp người trực tiếp đến giao kết hợp đồng để thực hiện việc giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

Ngoài các hình phạt, còn bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc doanh nghiệp viễn thông di động nộp lại tổng số tiền tương đương tổng số tiền đã nạp vào tài khoản chính của SIM. Trường hợp không thể xác định chính xác, số tiền phải nộp lại được áp dụng theo công thức: 100.000 đồng nhân với số tháng vi phạm.

 

Xem chi tiết Nghị định số 49/2017/NĐ-CP tại đây./.

 

Thanh Bình

  quy hoạch - kế hoạch